Một nét văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên

18:10 11/09/2009 | Lượt xem: 1034

Những ai đã từng đến với đại ngàn mênh mông của rừng núi Tây Nguyên mới thấm thía hết chất men say của núi qua chóe rượu cần của đồng bào dân tộc nơi đây. Một thức uống với chất men cực kỳ độc đáo, không giống với loại men ở nơi nào trong nước cũng như các quốc gia khác trên thế giới.

 

 

Rượu cần Tây Nguyên - văn hóa uống có một không hai, mang đậm đà phong cách, bản sắc dân tộc Việt Nam suốt bao đời nay. Ai đã từng say mê rượu cần chắc hẳn sẽ không thể quên những vần thơ của Giang Nam:

 

Ta vin cần uống núi rừng thiêng

Em múc trăng vàng về tan đáy rượu

Giọt mắt hòa vào men chuếnh choáng

Tôi chìm trong hương tóc trăng em...

 

Các chất liệu làm nên rượu cần Tây Nguyên không phải là những thứ cao sang cầu kỳ. Tất cả đều là sản vật của đất và nước, núi và rừng Tây Nguyên. Đó là gạo nếp, bắp, mỳ, khoai... hòa quyện với chất men được cất lên từ tinh túy của một số lá cây, rễ cây rừng quý. Người Bana gọi rễ cây đó là Hiam. Rễ cây này cùng với gừng, ớt được giã nhỏ, trộn với gạo rồi được viên thành viên nhỏ. Hoặc lấy rễ dây men, loại dây có gai bò trên mặt đất giống như dây trầu, đem phơi khô, giã nhỏ củ riềng hoặc củ gừng rồi cũng viên thành từng viên lớn như trứng gà so. Mỗi chóe chỉ bỏ một viên men là đủ. Sau khhi chưng cất, rượu cần còn được hạ thổ, ủ càng lâu càng thơm ngon. Lúc nào uống chỉ cần đổ thêm nước lã chứ không cần chưng cất như rượu đế. Rượu cần không quá cay và sốc uống vào thấy êm và ngọt, nó đem lại cho con người sự thăng hoa, khỏe mạnh, sung mãn và hạnh phúc hòa quyện. Rượu cần có nhiều loại rượu thóc là lúa mới xay, rửa cho sạch, ngâm rồi trộn men để bỏ vào chóe. Lấy lá chuối bịt miệng chóe độ năm, sáu hôm là dùng được. Rượu cơm là rượu làm bằng gạo nấu thành cơm ủ với men; hoặc là trộn đều bỏ vào chóe; hay bỏ một lớp cơm, một lớp men cũng được. Cơm rượu chỉ vài ba hôm là nở tràn chóe. Còn rượu kê, bobo, bắp, mỳ...cũng làm theo cách trên. Đặc biệt, nó được bí mật truyền từ người mẹ sang con gái, suốt mấy ngàn năm, với tư cách là vật thiêng mẫu truyền, chỉ con gái của mẹ được biết, chứ con trai thì không bao giờ. Chất liệu và men làm rượu được dưỡng trong chóe sành lớn có chạm hoa văn. Miệng chóe được gắn chặt, đóng thật kín bằng lớp vỏ trấu để giữ nhiệt độ cho chín rượu.

 

Rượu cần có nồng độ nhẹ, hương vị nồng nàn của men lá rừng khiến ta có cảm giác lâng lâng ngây ngất, dẫu say nhưng vẫn muốn được uống thêm, vui mãi. Bởi thế người ta không uống rượu cần một mình hay uống để giải sầu mà thường uống cùng nhiều người vào những ngày mùa bội thu, những dịp lễ hội, tiếp đãi bạn bè, khách quý phương xa. Rượu của đồng bào Ba-na được các dân tộc ở Tây Nguyên khen là ngon nhất, sau đó mới là rượu của người Ê-đê và Xơ-đăng.

 

Theo quan niệm của con người nơi đây thì Giàng (trời) tối cao, tối linh đã ban cho Tây Nguyên rượu cần và ngàn đời nay đã trở thành thuần phong mỹ tục trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Uống rượu không phải là uống sao cũng được, nếu có khách đến nhà thì vấn đề “uống” là cả một nghi thức rườm rà. Do họ tin rằng, rượu cần là của trời ban cho nên rượu cần được cao quý hóa trong việc dùng nó.

 

 

Khi chủ nhà mang chóe rượu bầy ra giữa nhà tức thì các nhà lân cận cũng mang rượu đến chung vui cùng nhà có khách. Các chóe rượu được buộc chặt vào các cây cột bằng gỗ hay bằng tre. Chủ nhà mới mở miệng chóe lấy lá tranh bỏ ra ngoài, đoạn cắm cây cần vào. Xong đâu đấy chủ nhà mới múc nước lã đổ vào chóe cho tràn, rồi uống một hớp trước để tỏ lòng chân thành và tỏ cho khách biết rượu không có bỏ thuốc độc. Còn phía khách, trước khi uống, bao giờ cũng hút một ngụm rồi nhổ bỏ, vì theo tục lệ xưa, để tránh tình trạng bị đầu độc. Sự đề phòng về sau trở thành tục lệ.

 

Ngày nay nghi thức uống rượu có thay đổi tùy theo mỗi dân tộc và mỗi địa phương. Chủ nhà thay mặt cả gia đình chúc khách được sức khỏe, sống lâu và gặp nhiều may mắn, sinh con đẻ cái cho thật nhiều. Chủ nhà còn đưa tay phải nắm lấy cần, tay trái đặt lên miệng chóe, lâm râm khấn rằng: Mách ỏ rạ mách tổ ỏ rạ, ghệt am ỏ rạ có nghĩa là: Anh em vui vẻ ăn nhậu, xin anh em yêu thương nhau.

 

Qua những nghi thức đầu tiên, chủ khách cứ tiếp tục uống, vừa uống vừa chuyện trò vui vẻ. Rượu vơi đến đâu, chủ nhà múc nước thêm vào đến đó. Nếu khách là người miền xuôi lên thăm, thì thật là:

 

Trường Sơn cao ngất rừng xanh

Quây quần rũ rượu, Thượng - Kinh chung cần.

 

Tất cả mọi người, già trẻ, gái trai, không phân biệt chức sắc hay thường dân, ai cũng có thể vin cần mà uống. Uống được bao nhiêu tùy cái bụng của mình.

 

Tuy nhiên uống rượu cần cũng phải biết vin cần mà uống. Phải học hỏi và thành tâm mới làm được. Cần rượu Tây Nguyên khác hẳn với Tây Bắc, Việt Bắc và bất cứ nơi đâu. Đó là một loại dây chỉ có ở núi rừng Tây Nguyên. Người Tây Nguyên gọi là cây Triêng, có cuống dài cả mét, chặt về phơi khô, rút bỏ lõi, rồi được cắm vào chóe rượu. Khi vin cần đưa lên miệng, ta thưởng thức rượu nhờ cái ống hút của sợi dây cần này. Khách đông thì nhiều cần, càng nhiều cần càng vui. Thưởng thức rượu không bằng ly, chén mà bằng cần có lẽ chỉ có ở Việt nam.

 

Thật hạnh phúc khi vin cần rượu Tây Nguyên, thưởng thức hương vị nồng nàn, ngây ngất trong tiệc rượu có già làng làm chủ lễ. Già làng chủ lễ thành kính một tay cầm chiếc sừng trâu mộng khoét rỗng, một tay cầm gáo múc nước. Chóe rượu lớn đặt chính giữa, bên cạnh là hũ đựng nước suối ban mai trong suốt như ngọc. Nước suối ban mai ấy đổ tiếp vào chóe cho rượu luôn đầy. Chủ lễ cứ đổ, đồng thời phạt những ai vin cần đến nỗi...làm rượu tràn khỏi miệng chóe. Và khi ấy, tiếng cồng, tiếng chiêng dài như sông như suối trầm hùng âm vang cùng lời ca, điệu múa rộn ràng của Tây Nguyên...

 

Rượu cần ở Tây Nguyên dùng trong mỗi dịp lễ lớn như bỏ mả, ăn cơm mới. Những ngày lễ đều được cử hành trọng thể ở nhà rông. Đồng bào đánh cồng chiêng, nhảy múa, ca hát rồi ăn thịt trâu nướng, uống rượu say túy lúy. Bên chóe rượu, trai, gái hát cho nhau nghe những bài hát chan chứa ân tình.

 

 

Uống rượu cần thể hiện sự đoàn kết, thương yêu. Mọi người cùng uống với nhau chung cần. Từ già tới trẻ, không phân biệt trai gái, sang hèn cùng nhâm nhi thịt trâu nướng...

 

Nếu như trước kia rượu cần chỉ là đồ uống đặc trưng của núi rừng, của các dân tộc ít người thì ngày nay nó đã xuất hiện rất nhiều và rất được yêu thích ở chốn thị thành, trong những cuộc vui liên hoan, trong những đêm lửa trại của thanh niên, sinh viên.

 

Ở đâu có rượu cần là ở đó có niềm vui, có tiếng cười và sự giao lưu thân ái. Không ít người đã coi rượu cần như một biểu tượng của niềm vui, tình đoàn kết, là một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Rượu cần ngày càng được nhiều người Việt Nam, đặc biệt là du khách nước ngoài tìm đến để thưởng thức, khám phá nét văn hóa độc đáo mang đậm dấu ấn của núi rừng và thiên nhiên nguyên sơ.

 

Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, có lẽ chỉ sau cây lúa, biểu tượng cho nền văn hóa nông nghiệp, rượu cần là đặc sản phổ biến thứ hai trong cuộc sống của các dân tộc Việt Nam.

Tin tức khác