Tranh luận về rượu Hồng Đào

15:33 01/10/2014 | Lượt xem: 1860

1. Rượu Hồng Đào hoàn toàn không có thật

 

Không rõ năm 1602 khi Nguyễn Hoàng cầm quân vượt núi Hải Vân vào trấn giữ Quảng Nam, câu ca dao tiêu biểu nhất, khái quát nhất của vùng đất này đã có chưa?

 

Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu Hồng đào chưa nhắm đã say

 

“Hồng đào” theo tôi chỉ là một cách nói văn vẻ, văn hoa – vốn là một cách nói hiếm khi thấy người Quảng sử dụng trong giao tế. Ít sử dụng không phải họ không đủ sự lịch lãm, nhưng trong giao tế thông thường người Quảng nói thật lòng những gì mình đang nghĩ, chứ không nói đãi bôi. Dù ít sử dụng, nhưng khi cần thiết, họ vẫn có cách nói của riêng mình. Đó là trường hợp của rượu Hồng đào.

 

 

Khi nói “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm“, người ta đã đặt địa danh Quảng Nam vào một vị trí cao, vậy muốn so sánh tất phải có một sản phẩm khác tiêu biểu, phải thật tiêu biểu của vùng đất này. Lập luận như thế thì rượu Hồng đào phải có thật chứ? Nhưng không. Do vế trên, cho biết theo nghĩa đen “chưa mưa đã thấm”, thì câu nối theo cũng phải có ý nghĩa tương tự.

 

Tạm dừng lại đây để ta hiểu “thấm” nghĩa là gì? Tôi muốn mượn hai quyển tự điển tiêu biểu của miền Nam và miền Bắc giải thích. Đại Nam quốc âm tự vị (ấn bản năm 1895) của Huỳnh Tịnh Paulus Của, giải thích nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa mà ta đang xét: “Nhúng nước gì, chấm nước gì; làm cho ướt, cho nước gì thấu vào; nước thấm vào” và đưa ra thí dụ như “thấm nước miếng: lấy nước miếng mà làm cho ướt, như thấm nước miếng mà gắn con niêm, gắn bì thư”. (Tôi thích cái thí dụ này, đọc lại, ta thấy như tái hiện lại kỷ niệm của cả một thời tuổi nhỏ mà mình cũng đã từng như thế, nay đã xa xôi, đã không còn nữa).

 

Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (ấn bản năm 1931), giải thích: “Nói về nước đẫm vào, hút vào: Nước mưa thấm áo, Mực thấm vào giấy; Đủ, bõ: Uống hàng chai rượu mà chẳng thấm vào đâu; Làm cho hút đi: Lấy bông thấm máu, Lấy giấy thấm mực; Thấu sâu vào: Nói mãi cũng phải thấm”.

 

Ta hiểu “thấm” là một động từ, diễn tả sự vật đang vận động. Và cũng hiểu rằng, thật lạ lùng cho cái xứ Quảng Nam, từ trời cao “chưa mưa”, chưa đổ nước xuống vậy mà đất… “đã thấm”! Một cách giới thiệu tài tình, không lẫn lộn, không “đụng hàng” với bất cứ một vùng đất nào khác trên toàn cõi nước Việt.

 

Vậy câu kế theo, thật khéo léo khi chọn lấy động từ “say”. Muốn say, muốn được cái cảm giác diệu vợi, chếnh choáng như thi sĩ Tản Đà:

 

Đất say đất cũng lăn quay

Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười?

 

Tất phải có rượu. Rượu nào cũng được chăng? Với người Quảng, đó không phải là rượu Đế (do nấu bằng cỏ đế nên “chết tên” như thế) hoặc rượu Cây Lý hoặc Bàu Đá hoặc làng Vân… mà phải là rượu Hồng đào! Nhưng rượu Hồng đào không có thật. Nó chỉ là một cách nói nhằm tương xứng với địa danh Quảng Nam ở câu trên.Vì sao?

 

Trong phép đối xứng của hai câu này (tạm gọi là thơ), thì danh từ riêng phải đối với danh từ riêng, chứ không thể nào khác được. Khi đã đưa ra một địa danh, mà lại là địa danh có vị trí cao nhất là tên gọi của cả một vùng đất thì rõ ràng không thể có một danh từ riêng nào đó có thể tương xứng đối lại với nó. Muốn đối lại phải là tên một địa phương khác.

 

Nhưng ở đây, chỉ nhằm giới thiệu về tính chất địa phương mình nên “phương án” đó không xảy ra. Vậy chọn một danh từ riêng trong phạm vi của vế trên đã đặt ra, ta chọn lấy gì? Là “Trà Mi rừng quế, kho vàng Bồng Miêu”, là “con tằm Đại Lộc se tơ”, là “thuốc rê Cẩm Lệ”… chăng? Xem ra vẫn không ổn. Phải chọn một sản phẩm nào đó dẫn đến một động thái “thấm” như vế trên đã đặt ra.

 

Trong trường hợp này, chỉ có rượu dẫn đến “say” là hoàn chỉnh nhất. Bởi cái gì dẫn đến “thấm” nếu không phải là chất lỏng? Và rượu dẫn đến “say” cũng là một chất tương tự mà thôi. Nhưng chọn rượu của làng, xã, huyện nào đây? Không thể chọn được. Bởi rượu của làng, xã, huyện ấy làm sao đủ “tầm vóc” để đối lại với ý nghĩa khái quát là Quảng Nam? Mà người “Quảng Nam hay cãi”, đối không khéo sẽ bị chê là kém hiểu biết, thiếu lễ độ… Chi bằng, ta cứ đặt cho nó một cái tên không có thật, không thuộc làng, xã, huyện cụ thể nào nhưng nó vẫn đặc trưng đối với người Quảng. Và trải qua thăng trầm của lịch sử, rõ ràng nó đã được người Quảng chấp nhận. Nếu người Quảng không chấp nhận thì đừng hòng nó còn tồn tại đến ngày nay.

 

Đến đây, hẳn nhiều người cũng gật gù “có lý đấy chứ”, nhưng rồi sẽ đặt câu hỏi cắc cớ “Tại sao lại là rượu (màu) Hồng đào, chứ không phải là một màu nào khác?”. Vâng, sắc màu cũng phản ánh những cung bậc tình cảm. Với màu hồng đào (hồng điều), khi nghe âm của nó ta thấy gợi lại sắc thái của những gam màu sáng, của sự hòa hợp, khởi đầu cho một hy vọng, một ước nguyện tốt đẹp. Hầu hết trong lễ nghi của đám cưới, của sự hợp nhất ta thấy hồng đào vẫn là sắc màu “chủ đạo”. Ngoài tên gọi lễ tơ hồng thì ngay cả loại rượu trong đêm hợp cẩn, tất cũng phải là màu hồng đào, chứ không thể là rượu màu trắng – vốn chỉ dùng cho việc tế lễ.

 

LÊ MINH QUỐC

Thanh niên online 11/03/2006

 

————————

 

2. Rượu Hồng đào cớ sao lại không có thật

 

Đọc bài viết ” Rượu Hồng đào hoàn toàn không có thật ” của anh Lê Minh Quốc, tôi buộc phải cãi lại – không cãi không được – như cách người Quảng Nam vẫn thường nói. Bởi không chỉ là rượu, là đất, câu ca dao ấy nói một chủ thể không có mặt (trên câu ca dao) là người Quảng Nam. Nó như hạt ngọc sao lại dễ dàng vứt bỏ đi.

 

 

Không đợi đến năm Nguyễn Hoàng cầm quân vượt Hải Vân trấn giữ Quảng Nam thì câu ca dao: Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu Hồng đào chưa nhấm đã say mới có. Danh xưng Quảng Nam đã được xác định vào năm 1471, sau khi vua Lê Thánh Tông khôi phục lại bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa (vốn là đất Chiêm Thành đã nhượng cho nhà Hồ từ năm 1402). Có thể trước đó cái tên Quảng Nam đã được dùng đâu đó trong dân gian nhưng theo văn bản thì tháng 6/1471, vua Lê Thánh Tông lập thừa tuyên Quảng Nam đạo, tức thừa tuyên thứ 13 của nước Đại Việt gồm có 3 phủ, 9 huyện. Phần đất từ bờ bắc sông Thu Bồn trở ra đến đèo Hải Vân (bao gồm cả TP Đà Nẵng ngày nay) lúc này mang tên huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong của Châu Hóa. Mãi đến khi Nguyễn Hoàng thiết lập dinh trấn Quảng Nam (năm 1602) thì hai năm sau mới tách huyện Điện Bàn sát nhập vào dinh trấn Quảng Nam.

 

Vậy thì cớ gì lại khu trú sự xuất hiện của câu ca dao trên phải có trước hay sau cái mốc Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam mà lại không thể có từ khi Quảng Nam đã thành danh xưng?

 

Cũng cần nói lại cho đúng trong cả 2 câu, người Quảng Nam dùng chữ “đà” chứ không phải chữ “đã”.

 

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm

Rượu Hồng đào chưa nhấm đã say

 

Câu ca dao trên viết theo lối văn biền ngẫu thường thấy ở lối văn cổ, lời, ý đối nhau, nhưng có dịp để phân tích kỹ cách dùng từ trong hai câu thật là hay. Cùng sử dụng danh từ riêng Đất Quảng Nam – Rượu Hồng đào kết hợp với phó từ chưa biểu thị ý nghĩa phủ định: chưa mưa, chưa thấm nhưng đưa đến kết quả xác định đà thấm và đà say, để chỉ một chủ thể (thực) vắng mặt trong câu là người Quảng Nam. Cái tài tình ở chỗ không có chữ nói đến người – chủ thể vắng mặt – mà đọc lên là hiểu đến người, không phải một người mà còn là tính cách một tập thể người.

 

Thật là: “Danh khả danh phi thường danh”. Cái khả dĩ là “danh” nằm ngoài cái “danh” thường hằng! Bởi nói đất, nói rượu mà lại nói người, nên tính cách người. Khi đặt tên Quảng: mở ra, Nam: Phía Nam vị vua tài trí, thần thơ tên hiệu Hồng Đức này đã xác định vùng đất, con người mở ra tiến vào Nam làm cuộc đổi mới bờ cõi. Chính vậy nên người Quảng Nam “nhạy cảm với cái mới, khao khát cái mới như đất hạn khát mưa, háo hức hút ngay từ giọt nước đầu tiên. Thậm chí khi chưa thật sự có giọt nước nào, chưa thật sự mưa đã náo nức hóng về mưa, cảm nhận ra nó rất sớm, chờ đón nó nồng nhiệt” (sđd: trang 370: Tìm hiểu con người xứ Quảng do Nguyên Ngọc chủ biên).

 

Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm là vậy. Chưa cần nói câu nặng nhẹ, nghe cái hơi, cái không khí thôi, là đã hiểu muốn nói gì rồi. Nhưng tại sao lại “đà” chứ không là “đã”. Theo ngữ pháp tiếng Việt do Tiến sĩ ngôn ngữ Nguyễn Hữu Quỳnh soạn (NXB Tự điển Bách khoa in năm 2001) thì đã là nhóm phó từ biểu thị ý nghĩa thời gian. “Đã” chỉ việc đã làm chuyện đã qua, đã xong rồi còn “đà” là biến từ của đã nói việc đã qua đang còn diễn tiến và có khi tiếp đến tương lai. Khi dùng từ “đà” trong ngữ cảnh của câu ca dao trên tất muốn nói cái sự thấm, sự say ấy là đã có, lưu lại cứ mãi mãi còn hoài trong tính cách người xứ Quảng.

 

Từ thấm không do tự điển ta cũng hiểu đúng như anh Lê Minh Quốc trích dẫn. Với học sinh dễ hiểu hơn thấm có nghĩa là thẩm thấu: ngấm vào từ từ (mà sâu bền). Đặc biệt ở câu dưới, động từ quan trọng cùng với từ thấm để chỉ ra tính cách lại đặt trước chữ đà là nhấm. Nhấm tức là dùng đầu lưỡi chạm vào, tiếp xúc với vật chất (không phải nếm, lại càng không phải uống) nhằm kéo dài sự thích thú, cảm nhận hết sự tinh tế, tuyệt vời của rượu, hay của cái tình trạng nó. Rượu Hồng đào chưa nhấm đã say: “Đến câu này thì rõ ràng nói về một con người thật đa cảm, đa tình. Nếu là người nơi khác nói người Quảng thì đó là một nhận xét thương yêu, trân trọng đối với con người ở đây. Còn nếu người Quảng tự nói về mình thì quả thật con người, phải sống khắc nghiệt là vậy, buộc phải lý trí là vậy, mà trong đáy sâu tâm hồn vẫn nhân hậu và lai láng nghệ sĩ biết bao!”. (sđd trang 367. Tìm hiểu con người xứ Quảng do Nguyên Ngọc chủ biên).

 

Hỏi rượu Hồng đào là rượu gì, có thật hay không? Ngày có cơ duyên làm báo đi khắp các vùng quê Quảng Nam, cũng nghi ngại như anh Quốc (và nhiều người khác) tôi cố tìm hỏi nó là cái chi chi. Mỗi người diễn tả cách “chế tác” rượu Hồng đào mỗi cách, nhưng tựu trung lại thì rượu Hồng đào khắp cả Quảng Nam nơi nào cũng có và thường chỉ làm ra dùng vào việc lễ, dịp cưới hỏi nghinh hôn, lấy làm rượu hợp cẩn giao bôi. Cách chế tác như sau: lấy rượu đế (trắng) thường nấu bằng gạo sau khi lên men, dùng cây tăm hương (chân hương đã đốt còn trong bát nhang) hay lấy cái vỏ bao hương nhúng vào rượu trắng, nhuộm màu hồng của chân hương hay vỏ bao hương cho rượu, nên rượu Hồng đào. Để làm chi vậy? Là để khác với rượu thường ngày thường. Ngày thường uống rượu đế thường ngàn ly (chun) không say, nhưng ngày lễ – rượu Hồng đào – cái tình ấy, cái nghĩa ấy (sao) chưa nhấm đà thấy say. Đến đây mới thấy hết ý nghĩa của chữ “đà”. Bởi cái tình ấy, chuyện tình, chuyện nghĩa, chuyện lễ là cái đã có ngấm sẵn trong con người và nó cứ lâng lâng phấn khích, say lòng người cần gì rượu, cần gì mưa! Là trong rượu có tình và cái tình ấy mới say chứ rượu thì làm gì phải say và cái say này hứa hẹn kéo dài đến tương lai.

 

Vậy thì rượu Hồng đào là có thật chứ! Chỉ do người dân quê tôi không muốn (hay không biết) tổ chức để công nhận thương hiệu mà thôi. Bởi cũng có thể do giấu nghề hay giấu nghèo! Cũng là sĩ diện mà ra, cái ngày lễ, ngày bái ấy không phải ngày thường rồi, cần phải dâng lên, trao nhau vật gì trân quý hơn cái thường dùng (rượu đế) nhưng nghèo quá nên đành biến báo ra cái rượu khác ngày thường – rượu Hồng đào.

 

Chúng ta ở vào thời đại mà những giá trị tinh thần đã được thế giới công nhận tôn vinh là di sản nhân loại (phi vật thể) thì cớ sao rượu Hồng đào của Quảng Nam lại không có thật?

 

NGUYỄN TRUNG DÂN

Thanh niên, 18 Tháng ba 2006

 

————————

 

3. Rượu Hồng Đào răng rứa hè?

 

Mấy bữa nay, trên một tờ báo cuối tuần, người Quảng Nam – Đà Nẵng lại cãi về “rượu Hồng Đào” (trong câu ca dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm, rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say”). Anh bạn tôi phô-tô cho mỗi người một bản hai bài báo của anh Lê Minh Quốc và anh Nguyễn Trung Dân để tiện nghiên cứu và cãi. Sôi nổi cứ như là Wolrd Cup bóng đá.

 

Rượu Hồng Đào là gì? Nỗi khúc mắc đó của hàng triệu người Quảng Nam và những người nơi khác tìm hiểu về Quảng Nam được khơi lên, thách thức đau đầu cho con người ở một vùng đất mà bản tính luôn hừng hực muốn đi đến tận cùng sự thực.

 

Một câu hỏi mà nhiều nhà nghiên cứu bỏ qua, cho đến nay vẫn chưa có lời đáp. Cụ Phan Khôi lý sự, nhà nghiên cứu Quảng Nam - Nguyễn Văn Xuân, nhà văn Nguyên Ngọc và nhiều tên tuổi khác của Quảng Nam vẫn chưa có lời đề cập, góp ý. Dè dặt quá chăng?

 

Tuy chưa ai đưa ra lời khẳng quyết nhưng có lẽ trong mỗi người đều nghiêng về giả thuyết này hay giả thuyết khác. Chỉ nghiêng thôi chứ không dám chắc hẳn vì ở cái đất hay cãi này (Quảng Nam hay cãi), muốn quả quyết chuyện gì phải xác lý. Không tin, ngẫm lại xem! Anh Lê Minh Quốc mới chỉ thả một câu hỏi: “Không rõ năm 1602, khi Nguyễn Hoàng cầm quân vượt núi Hải Vân vào trấn giữ Quảng Nam, câu ca dao tiêu biểu nhất, khái quát nhất của vùng đất này đã có chưa?”. Mới rụt rè hỏi thế thôi, ai có biết xin chỉ giáo giùm mà đã bị anh Nguyễn Trung Dân cho một tràng lịch sử dằng dặc rồi “trợn mắt”: “Cớ gì lại khu trú sự xuất hiện của câu ca dao trên phải có trước hay sau cái mốc Nguyễn Hoàng vào trấn Quảng Nam mà lại không thể có từ khi Quảng Nam đã thành danh xưng? (1471)”. Cãi đến mức như rứa thì sợ thật!?

 

Nói thì nói thế thôi, chứ sợ đến mấy cũng phải cãi. Anh Phạm Hữu Đăng Đạt, tác giả cuốn Hương vị Quảng Nam, khi lai rai cùng tôi, ở phút thật lòng nhất buông một câu “chí phải” đầy vẻ… Quảng Nam: “Nói rứa chớ cãi hắn sướng chứ ông!”. Tôi ngộ ra khi cãi người ta thấy sướng, bởi sướng – chứ không phải thắng – cho nên không sợ!

 

Cho đến nay, tôi cũng không đoan chắc rượu Hồng Đào có hay không? Tuy nhiên, nói gọn lỏn rằng “hoàn toàn không có” mà không đưa ra được luận cứ, dẫn chứng nào như anh Lê Minh Quốc thì khó đấy. Đó chỉ thuần là suy đoán chủ quan. Vì vậy, chỉ có thể coi đây là một cách lý giải dựa trên niềm tin, có giá trị như một giả thuyết, không thể diễn đạt bằng phán quyết chắc như đinh đóng cột rằng “rượu Hồng Đào hoàn toàn không có thật”.

 

Thú thật, trước nay tôi cũng nghiêng về giả thuyết như anh Quốc, thầm nghĩ rượu Hồng Đào cũng tương tự như lá diêu bông của nhà thơ Hoàng Cầm mà một thi sĩ dân gian nào đó ở Quảng Nam trong lúc xuất thần buông ra. Nhưng quyết rằng không có thì tôi không dám chắc, vì cái ta không thấy, không biết thì logic học không cho phép kết luận rằng đấy là cái không có.

 

Cùng cho rượu Hồng Đào là có thật như anh Nguyễn Trung Dân có anh Đỗ Thế, Phó Giám đốc Công ty Minh Anh (Đà Nẵng) – đơn vị đã đăng ký nhãn hiệu độc quyền và đang sản xuất rượu Hồng Đào hiện nay. Tuy nhiên, anh Thế cho biết cách chế biến rượu Hồng Đào mà anh nghe một người dân tên Sáu (anh Thế không nhớ họ) ở xã Điện Quang (Gò Nổi), Điện Bàn, Quảng Nam kể lại thì rất công phu. Câu chuyện được anh Thế thuật lại như sau:

 

Ngày xưa, lúa gạo ít, người nông dân phải dành thóc để ăn đến giáp hạt nên ngày thường không dư dả lúa thóc để nấu rượu. Chỉ vào mùa thu hoạch, người ta mới dành ra chút ít để nấu nên nguyên liệu nấu rượu Hồng Đào luôn luôn là lúa mới (lúa – tiếng Quảng Nam còn có nghĩa là thóc). Lúa được xay trong các cối xay bằng tre để bóc vỏ trấu, hạt gạo còn màu trắng đục ngà xanh của vỏ cám. Hạt cơm nấu từ gạo này để làm rượu phải đảm bảo không được nở to, bề mặt hạt cơm trơn bóng.

 

Sau khi để nguội, trộn với một ít men lá – người vùng cao hiện nay vẫn dùng sản xuất rượu cần – và ủ trong những chum sành khoảng một tuần sau mới đem chưng cất. Men rượu tự nhiên trong lá sẽ chuyển cơm thành rượu có mùi thơm nồng đượm, đặc trưng của mùi gạo lức mới còn nguyên cám.

 

Sau đó ủ tiếp rượu mới cất (có khi với quả đào chín thái mỏng) trong các chum sành và chôn cả chum rượu dưới đất. Sau hơn 100 ngày mới đào lên, rượu Hồng Đào lúc này có màu hồng đỏ óng ánh và mùi thơm rất quyến rũ. Thông thường, hũ rượu này chỉ dùng trong các dịp lễ lạt, đình đám.

 

Anh Thế chỉ cho tôi lò nấu rượu hình bát quái của công ty mới đầu tư cùng dãy chum lọ xếp chật cả kho xưởng lớn và cho biết hiện đơn vị anh đang chế biến rượu Hồng Đào theo hướng mô phỏng từ lời kể trên.

 

Câu chuyện của anh Thế thuật lại qua lời kể của một người dân Gò Nổi làm tôi phân vân. Với tất cả sự dè dặt cần thiết tôi xin nói rằng lời kể của một người là chưa đủ để kết luận rượu Hồng Đào ngày xưa được chế biến theo cách như vậy. Tuy nhiên, cách giải thích này thì còn khả dĩ chấp nhận được.

 

Cách của anh Nguyễn Trung Dân, mới thật là dễ sợ. Xin trích nguyên văn: “Lấy rượu đế (trắng) thường nấu bằng gạo sau khi lên men, dùng cây tăm hương (chân hương đã đốt còn trong bát nhang) hay lấy vỏ bao hương nhúng vào rượu trắng, nhuộm màu hồng của chân hương hay vỏ bao hương cho rượu nên rượu Hồng Đào”.

 

Với tất cả lòng trân trọng với sự thật – dù có phũ phàng – tôi và rất nhiều đồng hương Quảng Nam khác mong anh Dân cho biết cụ thể quá trình tìm hiểu và cách phối kiểm nguồn tin mà trong những ngày làm báo đi đây đó anh đã thu thập được, để đi đến kết luận rượu Hồng Đào ngày xưa được “chế tác” theo cách thức nói trên.

 

Còn bây giờ đây, trong khi chờ đợi, tôi không muốn tin rằng đấy là loại “rượu Hồng Đào chưa nhắm đà say”, loại rượu được dùng trong giây phút hợp cẩn giao bôi thiêng liêng như anh Dân nói. Khi chưa có được những chứng cớ xác đáng, với lòng yêu mến Quảng Nam, cho phép tôi xin gọi thứ rượu mà anh Dân kể lại là “rượu nghe nói đà kinh!”.

 

Tôi bỗng sực nhớ đến câu nói quen thuộc của dân nhậu thời hiện đại: “uống nói mới tin”. Thôi thì “uống nói mới tin”, ai đã (dám) uống được cái rượu ấy thì nói tôi mới tin!?

 

Nguyễn Đông

SGGP ngày 18/04/2006.

——————

4. Trả lại tên cho rượu HỒNG ĐÀO

 

Cần khẳng định ngay rằng, người viết bài này không có chủ ý muốn “tranh chấp” bản quyền thương hiệu rượu Hồng đào, như chuyện từng xảy ra giữa hai công ty ở Đà Nẵng và Quảng Nam. Nhưng đối với một loại quý tửu đã đi vào câu ca dao như một ngữ trưng của người xứ Quảng, thì việc tìm lại chốn quê cho rượu Hồng đào, hẳn nhiên, là cần thiết.

 

Nhưng việc gì phải tìm “quê”, vì câu ca dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/ Rượu Hồng đào chưa ngấm đà say” đã nói lên điều này? – hẳn bạn đọc sẽ nghĩ vậy. Tuy nhiên, rượu Hồng đào là loại rượu nào, và đất Quảng Nam ở đây là định danh cho một vùng đất hay chỉ là một địa danh tỉnh Quảng Nam như hiện nay, thiết nghĩ cùng cần suy nghĩ thêm.

 

Câu chuyện về rượu Hồng đào, thì cách đây chưa lâu, đã được đưa ra bàn tán. Người thì, như nhà thơ Lê Minh Quốc, cho rằng rượu Hồng đào không có thật mà chỉ là danh từ chung ám chỉ một điều tốt đẹp, nhằm tương xứng với địa danh Quảng Nam. Tác giả Nguyễn Trung Dân thì ngược lại, khẳng định rằng rượu Hồng đào hoàn toàn có thật và khắp Quảng Nam nơi nào cũng có. Rượu chế tác theo kiểu: lấy rượu đế thường nấu bằng gạo sau khi lên men, dùng chân hương đã đốt còn trong bát nhang, hay vỏ bao hương… nhúng vào rượu trắng, để nhuộm màu hồng cho rượu (!). Có người còn đưa ra một câu chuyện lưu truyền tại vùng quê Gò Nổi (Điện Bàn, Quảng Nam), về một cô gái tên là Hồng Đào phụ giúp cha bán rượu và rượu Hồng đào có tên từ đó.

 

Tất cả những giải thích trên xem chừng có phần mang ý hướng chủ quan. Bởi một loại rượu trở thành niềm tự hào của cả một vùng đất, đi vào ca dao lưu truyền, vậy mà hoàn toàn không có thật, thì quả hơi khó nghe vô. Còn với cách giải thích là rượu được tạo ra màu hồng bằng cách nhúng… chân nhang, hay vỏ bao hương vào, thì tuy rất đồng tình với tác giả, rằng đây là loại rượu tình, rượu nghĩa, nhưng xem ra vẫn chưa hợp lý.

 

Cần phải thống nhất ngay rằng, khi đã gọi tên một loại rượu là Hồng đào, hẳn nhiên, người ta muốn nói đến màu hồng rất đặc trưng của một loại rượu, chứ không thể là rượu trắng sản xuất theo một quy trình nào đó, dẫu là đặc biệt.

 

Vậy rượu Hồng đào là gì? Câu hỏi ấy cứ vấn vương theo chúng tôi trong hành trình tìm quý tửu. Đến một ngày, chúng tôi mới chợt ngộ, khi được tận mặt rượu Hồng đào. Ở những vùng quê Bình Định, rất nhiều gia đình có một hũ rượu Bàu Đá, ủ với trái đào tiên, có màu hồng tươi rất đẹp. Trái đào tiên này phổ biến ở vùng núi phía Tây tỉnh Bình Định. Theo lưu truyền dân gian vùng Bình Định, uống đào tiên, sẽ rất tốt cho sức khỏe, bổ âm, xương cốt. Còn theo tài liệu của GS Đỗ Tất Lợi, uống đào tiên sẽ giúp cho việc trường thọ. Cách thức pha chế loại rượu này khá đơn giản và chúng tôi hy vọng, sẽ có dịp giới thiệu trước công chúng trong đêm rượu Hồng đào, dự kiến sẽ tổ chức vào ngày Di sản Việt Nam (23.11) sắp tới, tại Nhà trưng bày Gốm cổ Gò Sành (TP. Quy Nhơn).

 

Nhưng đến đây lại có một vấn đề đặt ra. Đó là khi đã khẳng định loại rượu trên là rượu Hồng đào, thì tại sao, trong câu ca dao vẫn được lưu truyền rộng rãi kể trên, rượu Hồng đào lại chỉ gắn với địa danh Quảng Nam. Lần giở lại lịch sử, chúng ta thấy, địa danh Quảng Nam lúc đầu là một định danh. Sau đó, năm 1471, sau khi vua Lê Thánh Tông khôi phục lại bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa (vốn là đất Chiêm Thành đã nhượng cho nhà Hồ từ năm 1402), vua đã lập thừa tuyên Quảng Nam đạo, tức thừa tuyên thứ 13 của nước Đại Việt gồm có 3 phủ, 9 huyện, với nghĩa “Quảng Nam Thừa tuyên” là đất mở rộng về phía Nam, vâng lệnh vua để tuyên dương đức hóa”.

 

Khi ấy, bản thân phần đất từ bờ bắc sông Thu Bồn trở ra đến đèo Hải Vân lúc này mang tên huyện Điện Bàn (tức vùng đất lưu truyền câu chuyện về cô gái Hồng Đào và được xem là nơi có cách chế tác rượu Hồng đào), vẫn còn thuộc phủ Triệu Phong của Châu Hóa. Mãi đến năm 1605, Nguyễn Hoàng mới tách vùng đất này ra khỏi trấn Thuận Hóa, nhập vào trấn Quảng Nam. Đất Quảng hồi đó như vậy bao gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và một thành phố bây giờ là Đà Nẵng.

 

Cuối cùng, dẫu có hiểu rượu Hồng đào theo cái nghĩa nào, thì hẳn ta cũng sẽ đồng ý một điều rằng, rượu Hồng đào là rượu tình, rượu nghĩa, thể hiện cái tình, cái nghĩa của những con người xứ Quảng. “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/ Rượu Hồng đào chưa nhấm đà say” là vậy. Và bài viết này cũng chỉ như một lời khẳng định thêm về niềm tự hào ấy.

 

———————

 

5. Đi tìm rượu Hồng Đào

 

Là một người sinh ra và lớn lên trên quê hương Quảng Nam, đi đến đâu tôi cũng rất tự hào mỗi khi được nghe mọi người nhắc đến câu ca dao: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/ Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say”. Hơn cả biểu tượng văn hóa của một vùng đất, câu ca trở thành hành trang tâm hồn trong tâm thức mỗi người đất Quảng tha phương. Nó càng trở nên phổ biến khi được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu (cũng là người Quảng Nam) đưa vào bài hát Quảng Nam yêu thương khá quen thuộc. Nhưng để giải thích cho tên gọi “rượu Hồng Đào” thì cho đến nay vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi.

 

Hiện nay, đặc sản rượu Bàu Đá ở Bình Định cũng có thương hiệu là Hồng Đào. Ở Quảng Nam cũng có nhiều loại rượu mang tên Hồng Đào… Nhưng tất cả các loại rượu này đều “có tên” sau khi bài ca dao ra đời. Vậy “rượu Hồng Đào” trong câu ca dao là rượu gì?

 

Người thì cho rằng, đây là loại rượu có nguồn gốc từ vùng đất Bảo An, huyện Điện Bàn (Quảng Nam); người khác lại bảo Hồng Đào thực chất là rượu Bàu Đá được ủ với trái đào tiên được làm ra từ vùng đất An Nhơn (Bình Định)… Trong một bài viết, tác giả Nguyễn Trung Dân lý giải “rượu Hồng Đào” ở Quảng Nam nơi nào cũng có, rượu được chế tác theo kiểu: lấy rượu đế thường nấu bằng gạo sau khi lên men, dùng chân hương đã đốt còn trong bát nhang, hay vỏ bao hương… nhúng vào rượu trắng, để nhuộm màu hồng cho rượu (!). Theo nhà thơ Lê Minh Quốc thì “rượu Hồng Đào” hoàn toàn không có thật mà chỉ là danh từ chung ám chỉ những điều tốt đẹp. Cũng có người đưa ra câu chuyện lưu truyền về một cô gái ở vùng Gò Nổi, huyện Điện Bàn có tên Hồng Đào giúp cha bán rượu và rượu Hồng Đào có tên từ đó…

 

Tìm hiểu thêm tôi còn được biết một câu chuyện liên quan đến vấn đề này: rượu Hồng Đào trong bài ca dao thực chất chỉ là loại rượu gạo trắng bình thường mà người Quảng vẫn thường uống. Hồng đào là vẻ đẹp trên da mặt người thiếu nữ. Ngày trước, có một chàng trai đến nhà người yêu chơi, khi được người yêu rót rượu mời anh nhìn thấy khuôn mặt hồng hào của cô gái in bóng vào ly rượu trắng và đã đặt tên ly rượu ấy là Hồng Đào. Cũng chính nhìn vẻ đẹp của người mình yêu trong ly rượu nên anh “chưa nhấm đà say”. Từ đó người ta mượn tên rượu Hồng Đào để nói về tình cảm mặn nồng của người xứ Quảng.

 

Trong một lần giao lưu với nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, khi chúng tôi hỏi về ý nghĩa câu ca đã được ông đưa vào nhạc phẩm của mình, nhạc sĩ cũng giải thích như thế. Tất nhiên, cách lý giải trên có phần mang hơi hướng chủ quan, nhưng trong một chừng mực nào đó vẫn có sự hợp lý. Nó như một cuộc hành trình tìm đến cái đẹp trong tinh thần mỗi người đất Quảng. Đến nơi đây, người ta đâu chỉ say vì rượu. Say vì tình yêu đấy chứ! Chẳng phải như câu ca từ xưa đã từng lưu truyền đấy sao: “Còn trời còn nước còn non/ Còn cô bán rượu anh còn say sưa”.

 

Võ Như Ngọc

 

———————

 

Rượu Bảo An chắc gì là “rượu Hồng Đào”?

 

Chung quanh vấn đề “rượu Hồng Đào là rượu gì?”, lâu nay đã có khá nhiều cuộc tranh luận được mở ra công khai trên báo chí hoặc thông qua các buổi tọa đàm. Phần lớn các lập luận, suy luận của những người tham gia định danh cho “rượu Hồng Đào” đều tỏ ra có lý, song chúng lại không thống nhất, không có điểm trùng nhau. Vì thế, đến nay vẫn chưa có kết luận cuối cùng, chưa ai dám khẳng định rượu Hồng Đào chính xác là rượu gì, có thực hay chỉ là “hư tửu”. Chỉ biết, câu ca dao “Đất Quảng Nam…” luôn là niềm tự hào của mỗi người dân xứ Quảng. Thậm chí, có người cho rằng câu ca dao này còn là một “tấm thẻ căn cước văn hóa” của người Quảng. Cũng vì yêu và tự hào về điều này, có người cho rằng không nên cố “định danh” cho rượu Hồng Đào nữa, bởi các giả thiết logic thuần túy có thể làm hỏng, làm chệch cái da diết, thẳm sâu của nó.

 

Vì vậy, khi đọc bài “Rượu Hồng Đào có “gốc tích” từ làng Bảo An?”, tôi không khỏi bất ngờ và băn khoăn. Bởi lẽ, tìm chỉ dẫn xuất xứ cho một cái chưa rõ có thật trên đời hay không là một chuyện vội vàng, nếu không muốn nói là thừa! Ngạc nhiên hơn, để đưa ra lời khẳng định trên, tác giả bài viết đã dẫn các cứ liệu không liên quan gì tới rượu Hồng Đào mà chỉ liên quan tới rượu nói chung. Vì thế, việc cho rằng vì “rượu Bảo An thơm ngon có tiếng từ xưa” nên rượu Hồng Đào nhất định có “gốc tích” từ Bảo An là một lập luận gượng ép. Nếu theo cách lập luận này, tôi cũng có thể nói rằng thôn Tiệm Rượu (Nam Phước, Duy Xuyên) là nơi ngày xưa có rất nhiều tiệm bán rượu, nên suy ra rượu Hồng Đào phải có “gốc tích” ở đây!

 

Trong khi chưa thể khẳng định chính xác rượu Hồng Đào là rượu gì, thiển nghĩ rất không nên đặt vấn đề tìm kiếm chỉ dẫn xuất xứ của nó. Tôi nghĩ, chỉ cần thuộc và yêu câu ca dao cực hay nói trên, là đủ!

 

———————

 

6. Rượu Hồng Đào: Quảng Nam song hỷ tửu (kỳ I)

 

 

Hình 1: Phanxipăng bên tượng đá của Lê Công Thành nơi bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Điêu khắc gia không đặt tên tác phẩm này; nhưng thiên hạ gọi đủ kiểu, nào “Mẹ”, nào “Âu Cơ”, nào “Vú và trứng”, nào “Đàn bà và bọc trứng”, vân vẫn vần vũ.

 

Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,

Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say.

 

Bài ca dao nhiều dị bản

 

Nhắc đến Quảng Nam – Đà Nẵng, thiên hạ nhớ ngay đôi dòng vừa dẫn. Tùy căn cơ mà kẻ nọ, người kia thay từ đã bằng đà, từ nhấm bằng nhắm. Lưu hành trong môi trường diễn xướng, tác phẩm văn nghệ dân gian ấy đầy đủ gồm 4 dòng. Chính 2 dòng kế tiếp sản sinh vô số dị bản.

 

Xin tạm liệt kê chục dị bản như sau:

 

1. Em thương anh, cha mẹ không hay,

Như ngọn đèn giữa gió, biết xoay phương nào.

 

2. Kể từ ngày đó xa đây,

Sầu đêm quên ngủ, sầu ngày quên ăn.

 

3. Lòng ta như chén rượu đầy,

Lời thề nhớ tấc dạ này, bạn ơi!

 

4. Thương nhau chưa đặng mấy ngày,

Đã mang ơn trọng nghĩa dày, người ơi!

 

5. Đôi ta ơn trọng nghĩa dày,

Chưa nên câu duyên nợ đã mấy trăm ngày nhớ thương.

 

6. Chàng về nằm nghĩ gác tay,

Coi ai ơn trọng nghĩa dày bằng em.

 

7. Bạn về đừng ngủ, gác tay,

Nơi mô ơn trọng nghĩa dày, bạn theo.

 

8. Anh hùng thước lụa trao tay,

Nước non một gánh vơi đầy, hỡi ai!

 

9. Tình non nghĩa nước sâu dày,

Bờ Nam, cõi Bắc đã đầy nhớ thương.

 

10. Dù ai ơn mỏng, nghĩa dày,

Nửa chén cơm lưng phải nhớ, một gáo nước đầy chớ quên.

 

11. Nợ tiền, trả hết lại vay.

Chứ nợ duyên chồng vợ, trả mấy ngàn ngày cho xong?          

 

Soạn bài Tổng quan văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng đăng trên tạp chí Nguồn Sáng Dân Gian số 1 (tháng 11-2001), thạc sĩ Bùi Văn Tiếng phỏng định: “Có lẽ trong ca dao – dân ca Việt Nam, hiếm có câu ca dân gian nào có nhiều dị bản như câu Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm / Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say… Có thể ban đầu đây là một khúc hát trữ tình, với hai dòng sau được thay đổi cho phù hợp với cảnh ngộ riêng của từng chủ thể”.

 

Hình 2

 

Điệu hò giã gạo truyền thống đất Quảng được nhạc sĩ Trương Đình Quang và Kim Viên ký âm rồi in trong sách “Quảng Nam – Đà Nẵng xưa và nay” (NXB Đà Nẵng, 1996)

 

Trong sách Quảng Nam – Đà Nẵng xưa và nay (NXB Đà Nẵng, 1996), nhạc sĩ Trương Đình Quang và Kim Viên đã ký âm điệu hò giã gạo Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm / Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say vang vọng nơi đất Quảng.

 

Điều khiến rất đông người, kể cả dân Quảng, bấy lâu nay thắc mắc: rượu Hồng Đào như thế nào? Thậm chí, lắm kẻ tỏ ý nghi ngờ khi hỏi: có rượu Hồng Đào hay chăng?

 

 

Rượu Hồng Đào: Quảng Nam song hỷ tửu (kỳ II)

 

Hồng Đào qua một số nghệ phẩm

 

Hồng Đào được viết hoa tu từ, khéo đối ứng với hai chữ Quảng Nam về tự dạng, chứ căn cứ chính tả tiếng Việt hiện thời thì ghi hồng đào cũng được. Đây chẳng phải địa danh như một số người ngộ nhận. Thực tế thì xưa nay, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng không có làng, thôn, xã, phường, quận, huyện nào tên Hồng Đào.

 

Hồng đào, chữ Hán ghi 洪陶, là thợ đúc to lớn, là tạo hóa. Song trong tiếng Việt, hồng đào mang nghĩa gốc: hoa đào màu hồng. Hồng là đỏ nhạt. Đào là loài thực vật mang tên khoa học Persica vulgaris Mill. thuộc họ Rosaceae, thường trổ bông dịp xuân về.

 

Với Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798) đã viết:

 

Nào dạo lối vườn hoa năm ngoái,

Đóa hồng đào hái buổi còn xanh.

Trên gác phượng, dưới lầu oanh,

Gối du tiên hãy rành rành song song.

 

 

Hình 3: Hoa đào Hà Nội điểm hồng đường hoa Nguyễn Huệ ở Sài Gòn dịp Tết Đinh Hợi 2007

 

Theo nghĩa phái sinh, hồng đào là cách gọi màu sắc đặc trưng: đỏ nhạt như quả đào chín hoặc như hoa đào nở. Do đó, một số cụm từ đã xuất hiện: nắng hồng đào, trứng hồng đào (vẫn bị nói sai thành trứng lòng đào), mận hồng đào, má hồng đào, môi hồng đào, v.v.  Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939 – 2001) từng sáng tác:

 

Một cuộc tình nhỏ bé

Bên đôi môi hồng đào

Đường đời xa lắm nhé

Em không nhớ tôi sao?

 

Có kẻ trích thơ Đường: Hồng đào mỹ tửu dạ kim bôi. Ấy là trích sai, hoặc do vô tình, hoặc bởi cố ý. Đúng ra, đó là câu đầu trong bài thất ngôn tứ tuyệt kỳ 1 Lương Châu từ  涼州詞 nổi tiếng của Vương Hàn 王翰 (687 – 727):

 

葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

 

Phiên âm:

 

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

 

Lương Châu bây giờ là Võ Uy, thuộc tỉnh Cam Túc. Bản dịch của Trần Trọng Kim:

 

Rượu nho kèo chén lưu ly,

Uống thì trên ngựa tiếng tì giục sôi.

Say nằm bãi cát chớ cười,

Xưa nay chinh chiến mấy ai đã về.

 

Bản dịch của Trần Trọng San:

 

Rượu bồ đào, chén dạ quang,

Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi.

Sa trường, say ngủ ai cười,

Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu.

 

Bản dịch của Vân Bình Tôn Thất Lương:

 

Rượu bồ đào, chén dạ quang,

Ngập ngừng muốn uống, tiếng đàn giục đi.

Say nằm bãi cát li bì,

Xưa nay chinh chiến người đi, ai về.

 

Bản dịch của Bùi Khánh Đản:

 

Bồ đào, rượu rót chén lưu ly

Muốn uống, tỳ bà giục ngựa đi

Bãi cát say nằm, chê cũng mặc

Xưa nay chinh chiến mấy ai về.

 

Bản dịch của Đoàn Thuận:

 

Chén dạ quang, rượu bồ đào

Nhắp môi, đàn giục chiến bào yên cương.

Đừng cười say chốn chiến trường,

Xưa nay chinh chiến hồi hương mấy người?

 

Bản dịch của Trần Quang Trân:

 

Bồ đào rượu ngát chén lưu ly,

Toan nhắp, tì bà đã giục đi.

Say khướt sa trường, anh chớ mỉa,

Xưa nay chinh chiến mấy ai về?

 

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu:

 

Rượu đào ngon ngọt chén lưu ly,

Toan uống, trên yên giục tiếng tì.

Chớ mỉa người say nằm bãi cát,

Xưa nay chinh chiến mấy ai về!

 

Bồ 葡 là cây nho. Bồ đào 葡萄 là quả nho. Bồ Đào Nha 葡萄牙 là Portugal, đất nước trồng nhiều nho. Bồ đào tửu 葡萄酒 là rượu nho, là vang, tiếng Pháp ghi vin, tiếng Anh ghi wine. Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh cắt nghĩa như thế. Còn rượu hồng đào chẳng phải rượu ngâm hoặc chưng cất quả hồng với quả đào, mà là bất kỳ rượu gì có màu hồng đào.

 

 

Hình 4: Bồ đào là quả nho.

 

Lạ thay! Lê Minh Quốc – tác giả bộ sách Hỏi đáp non nước xứ Quảng – bỗng viết bài Rượu Hồng Đào hoàn toàn không có thật đăng báo Thanh Niên thứ bảy 11-3-2006. Tuần sau, báo Thanh Niên thứ bảy 18-3-2006 công bố bài của Nguyễn Trung Dân phản biện mạnh mẽ: Rượu Hồng Đào cớ sao lại không có thật? Báo Sài Gòn giải phóng thứ bảy 18-4-2006 lại in bài của Nguyễn Đông mang tiêu đề Rượu Hồng Đào răng rứa hè? Cả ba đều là người Quảng.

 

Rượu Hồng Đào: Quảng Nam song hỷ tửu (kỳ III)

 

Rượu Hồng Đào – chế biến & sử dụng

 

Thuở xưa, tại Trung Hoa và các quốc gia đồng văn, người người tổ chức dựng vợ gả chồng đều gắng theo Chu Công gia lễ hay Văn Công gia lễ do Chu Hy biên soạn vào đời Tống, gồm 6 lễ chính: nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tế, thân nghinh. Tại Việt Nam, hôn lễ được rút gọn còn 3 lễ chính: dạm (chạm ngõ), đám hỏi, đám cưới. Ngày nay, nhà trai với nhà gái cử hành giản tiện hơn: gặp nhau để bàn bạc, rồi gộp đám hỏi vào đám cưới. Dù phức tạp hay đơn sơ, đám cưới luôn chọn màu đỏ – màu may mắn – làm chủ đạo với nhiều sắc độ: thiệp hồng, pháo hồng, áo hồng, chữ song hỷ màu đỏ, khăn màu đỏ phủ các mâm lễ vật, v.v.  

 

Thật sự, đám cưới bao gồm nhiều lễ nhỏ, trong đó có lễ rất quan trọng chỉ dành cho cô dâu chú rể: lễ động phòng hoa chúc, còn gọi lễ hợp cẩn. Tất nhiên, cô dâu và chú rể nép vào nhau vái van ông tơ bà nguyệt, nhưng nghi thức thì mỗi dân tộc mỗi khác.

 

Với tục lệ Trung Hoa xửa xưa thì hai vợ chồng son xơi mỗi người một tô mì trường thọ (lạp miến) rồi vào buồng riêng, lứa đôi cùng ăn bánh tử tôn (4 bánh tròn và 32 bánh bán nguyệt bằng bột mì có nhân thịt heo tai tái), cùng uống rượu theo lối độc đáo: hai cái nậm mà quai được buộc với nhau bằng chỉ đỏ, hai chiếc chung cũng buộc vào nhau bằng chỉ đỏ, cô dâu và chú rể phải khéo léo uống cạn mà chớ để đứt sợi chỉ.

 

Với tục lệ Việt Nam cổ truyền thì lễ động phòng cần có: chỉ đỏ hoặc chỉ ngũ sắc gọi là dây tơ hồng, đĩa muối với dăm lát gừng tươi, chai rượu Hồng Đào đính kèm một chiếc chung. Chú rể buộc tơ hồng vào cổ tay nàng dâu và ngược lại. Rót đầy chung rượu, chàng uống nửa, nàng uống nửa. Xong, cùng lấy gừng chấm muối mà nhai, đôi lứa vừa hít hà, vừa dìu dặt ngâm nga:

 

Tay bưng đĩa muối chấm gừng,

Gừng cay, muối mặn, xin đừng bỏ nhau.

 

Rượu Hồng Đào ở nhiều tỉnh thành khác ắt khỏi bàn: thường chọn rượu ngon có màu đo đỏ. Nhưng ở Quảng Nam, nhất là giai đoạn người Việt mới mở cõi, đại đa số cư dân nghèo khó, rượu trắng nấu bằng gạo (lắm phen phải nấu bằng sắn) dọn tiệc, riêng xị rượu dành cho tân lang với tân giai nhân hợp cẩn cần nhuộm màu hồng. Cách nhuộm “khỏe mà rẻ” thế này: lấy nắm chân nhang (hương) nhúng vào rượu trắng. Không ít trường hợp, người ta lấy vỏ bao nhang thả vào rượu trắng. Chốc lát, rượu trắng ửng hồng. Rượu Hồng Đào dạt dào tình nghĩa xuất hiện.

 

 

Hình 5: Chế biến rượu Hồng Đào.

 

 

Nguyễn Trung Dân (tlđd) xác nhận: “Rượu Hồng Đào khắp cả Quảng Nam nơi nào cũng có và thường chỉ làm ra dùng vào việc lễ, dịp cưới hỏi nghinh hôn, lấy làm rượu hợp cẩn giao bôi. Cách chế tác như sau: lấy rượu đế (trắng) thường nấu bằng gạo sau khi lên men, dùng cây tăm hương (chân hương đã đốt còn trong bát nhang) hay lấy cái vỏ bao hương nhúng vào rượu trắng, nhuộm màu hồng của chân hương hay vỏ bao hương cho rượu, nên rượu Hồng Đào. Để làm chi vậy? Là để khác với rượu thường ngày thường. Ngày thường uống rượu đế thường ngàn ly (chung) không say, nhưng ngày lễ – rượu Hồng Đào – cái tình ấy, cái nghĩa ấy (sao) chưa nhấm đà thấy say”.

 

Lê Tự Vĩnh – kỹ sư viễn thông gốc Quảng đang làm việc tại Canada – luận: “Người dân Quảng Nam nghèo. Nhưng bằng mọi giá phải giữ Lễ. Theo đất lề quê thói, đêm tân hôn phải có một cái lễ tơ hồng chỉ dành cho cô dâu và chú rể. Hai người tự làm lễ trong phòng với nhau gọi là kết nghĩa giao thề. Lễ này không có lạy lục, cúng bái chi cả. Lễ vật để trên đầu giường tân hôn, cơ bản gồm: chỉ ngũ sắc, dĩa đựng mấy củ gừng và muối sống, rượu Hồng Đào. Vì cái nghèo, nhưng muốn giữ Lễ, nên cùng tắc biến, biến tắc thông. Biến bằng cách chạy ra lư hương, vơ một nắm chân hương màu đỏ, vò cho rớt cát, thả vô ly rượu đế, quậy mấy cái. Rượu chuyển qua màu hồng do phẩm từ chân hương. Giải quyết xong chữ Lễ, trọn vẹn cái Nghĩa, nhất là không vay mượn ai và chẳng tốn tiền”. Đoạn, Lê Tự Vĩnh nhấn mạnh: “Giữ cho được chữ Lễ, thà không có thì thôi, chứ có lễ tơ hồng ắt cần rượu màu hồng. Nói đến rượu Hồng Đào là nói đến ‘nhãn hiệu nghĩa tình’ của người dân Quảng”.

 

Tóm lại, rượu Hồng Đào là thức uống có cồn, màu đo đỏ, dành cho dâu rể làm lễ giao bôi. Rượu Hồng Đào hoàn toàn chẳng phải để chạm ly chan chát trong bàn nhậu. Vì sự gắn bó với đất và người xứ Quảng được thể hiện qua ca dao, có thể gọi rượu Hồng Đào là Quảng Nam song hỷ tửu.

 

 

 

Hình 6: Rượu Hồng Đào dành cho dâu rể động phòng, chẳng phải để chén chú chén anh.

 

_________________

 

Ghi chú thêm của tác giả Phanxipăng:

 

Cũng cần biết rằng dùng để nhuộm chân hương bằng tre và vỏ bao hương bằng giấy là dòng phẩm basic. Đại đa phần chân hương thường được nhuộm đỏ; ngoài ra còn số ít được nhuộm hồng, lục, vàng. Màu gì thì dòng phẩm mang tính kiềm này không đảm bảo an toàn thực phẩm; thế nhưng gian thương vẫn lấy phẩm basic để nhuộm hạt dưa, da heo quay, lạp xường / lạp xưởng, v.v. Rượu Hồng Đào pha chế bởi phẩm basic, dẫu vài ngụm ít ỏi, song lại hại sức khoẻ ẩm giả!

 

(2) Cuộc cạnh tranh thương hiệu “rượu Hồng Đào” giữa Công ty TNHH thực phẩm Minh Anh ở Đà Nẵng với Doanh nghiệp tư nhân Việt Tiến ở Tam Kỳ, Quảng Nam, là chuyện ì xèo quá ư… buồn / tức / mắc cười. Những ai biết nguyên uỷ Quảng Nam song hỷ tửu rồi mà rót rượu Hồng Đào do 2 doanh nghiệp này sản xuất, chắc chắn thấy chướng mắt: Hồng Đào linh chi màu cánh gián, Hồng Đào tằm công tử và Hồng Đào sâm màu vàng rơm. Ghi thêm: Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Minh Anh là Nguyễn Thị Anh Đào – vợ của Lương Minh Sâm nguyên Giám đốc Sở Du lịch Đà Nẵng, hiện làm Giám đốc Sở Ngoại vụ Đà Nẵng.

 

Phanxipăng

 

Nguồn:

http://phanxipang.wordpress.com

 

————————

 

 

 

Tin tức khác